Kỳ 1: Từ tấm bia mộ cụ tổ họ Quách

Cách đây trên 15 năm, bà con họ Quách ở hai huyện Như Xuân và Như Thanh tỉnh Thanh Hóa bắt đầu cuộc tìm kiếm ngôi mộ cụ tổ. Theo gia phả thì mộ cụ tổ táng ở làng Chiềng, xã Ngọc Lâu, huyện Phụng Hóa, phủ Thiên Quan (Thanh Hóa). Rất may tên làng Chiềng và xã Ngọc Lâu không thay đổi, nên họ đã xác định được địa danh này, nay thuộc miền cao huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình mà từ xa xưa người ta gọi là Mường Khụ (Mường Đá).
Ngày 25/12/2005, một đoàn người từ Như Thanh theo đường rừng Cúc Phương đến Phố Cát, Chợ Rịa vào Yên Thủy rồi tìm đường tới Vụ Bản. Thật không may khi đó cầu Chum ô tô chưa đi được, nên chuyến hành hương đầu tiên không thành. Tuy vậy, họ cũng đã xác định được nơi cần đến.
Ngày 16/01/2006, đoàn người họ Quách lại xuất phát từ Như Thanh đến huyện Bá Thước (Thanh Hóa). Từ đỉnh núi Bóp Nhai nhìn xuống bên kia là đất Hòa Bình. Sau nhiều giờ trèo đèo lội suối, họ đến xóm Rì, xã Tự Do. Chiều muộn ngày 17/01/2006, họ đến được làng Chiềng xã Ngọc Lâu. Cả đoàn con cháu họ Quách từ Thanh Hóa ra và tại Ngọc Lâu, Ngọc Sơn tụ quanh cột bia đá có khắc chữ Hán đang đứng xiêu vẹo bên một hố đất cỏ mọc dày tại Đống Tràng.
Những người dân họ Quách còn lại không nhiều tại chính nơi đây chỉ biết đây là ngôi mộ cổ đã bị người ta đào bới từ những năm 80 của thế kỷ 20. Sáng hôm sau (19/01), họ mới chính thức thắp hương, chụp ảnh, ghi lại từng chữ Hán rồi thuê xe ôm chở quay về Tự Do, ngược núi Bóp Nhai về Bá Thước …
Ông Quách Lục Kinh, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Như Xuân, hậu duệ đời thứ 13 của cụ tổ họ Quách đang tìm. Là người biết chữ Hán – Nôm nên ông quyết định trực tiếp đến đọc và soát lại từng chữ ghi trên bia mộ để yên tâm dịch ra chữ quốc ngữ.
Đúng ngày 08/3/2006, đoàn gồm 6 người lại xuất phát bằng xe máy từ Tp.Thanh Hóa theo đường Triệu Sơn, Cẩm Phong ra đường Hồ Chí Minh rồi vào Vụ Bản. Thời kỳ này đường từ Vụ Bản lên 3 xã vùng cao là Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và Tự Do của huyện Lạc Sơn chưa được nâng cấp, đi lại rất khó khăn. Xe máy ặc è leo dốc rất vất vả, nhất là dốc Đầm.
Mặc dù gian khổ như vậy, nhưng là đường tìm về quê hương, nơi cụ tổ đang an nghỉ nên ai cũng gắng sức vượt qua. Ông Quách Vĩnh Thích một thành viên trong đoàn đã tức cảnh sinh thơ:
Đường lên Mường Khụ đá cheo leo/Dốc núi thẳm sâu lắm tai mèo/Vi vu gió lộng rừng xanh thẳm/Lên đỉnh trời mây, mây với mây/Quê cha đất tổ hồn sông núi/Cháu con hội tụ thật vui vầy!
Văn bia được ông Quách Lục Kinh phiên âm như sau:
Thiên quan phủ, Phụng Hóa huyện, Ngọc Lâu xã. Thổ tù đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân tả đô đốc, cẩm y vệ, Chỉ huy sứ Đông đô, Đô đốc Chỉ huy sứ Vĩnh lục hầu Quách Phúc Thiêm, bản mệnh Bính Thân niên, thọ thất thập thất tuế.
Bản nguyên tứ nguyệt nhị thập lục, nhật thân hóa mệnh chung. Tử tôn để tang, thủy tạo, trác thạch tứ trụ lưu truyền vạn thế.
Dịch nghĩa:
Ông Quách Phúc Thiêm, quê quán Ngọc Lâu, huyện Phụng Hóa, phủ Thiên Quan. Chức vụ Tù trưởng, vì có công giúp nước đặc biệt được ban chức Thượng tướng quân, Tả đô đốc, Cẩm y vệ, Chỉ huy sứ Đông đô, Chỉ huy sứ Vĩnh lục hầu.
Ông mất năm Bính Thân (1716) đời vua Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11. Hưởng thọ 77 tuổi. Ngày 26 tháng Tư năm đó thì mai táng, con cháu lo chôn cất chu đáo.
Sau đó mới trồng bốn cột đá và đục khắc bia này để lưu lại cho muôn đời sau. Bia dựng 24 tháng 12 năm Nhâm Tý (1732).
Như vậy, ông Quách Phúc Thiêm sinh năm 1639 (Kỷ Mão) và mất năm 1716 (Bính Thân) và 16 năm sau (1732) con cháu khắc tấm bia đá này.
Theo người dân sở tại kể thì khi ngôi mộ bị đào bới, kẻ gian đã mang cột bia đá này đi, nhưng một thời gian sau thì bí mật trả lại và trồng vội bên miệng hố đã đào. Tấm bia đứng đó cho đến khi con cháu dòng họ Quách từ Thanh Hóa ra tìm mộ cụ tổ Quách Phúc Thiêm.
Ông Quách Thuận Lương, nhà giáo nghỉ hưu và là hậu duệ đời thứ 13 cụ Quách Phúc Thiêm kể: Ngay từ những năm 40 thế kỷ 20, các ông đã được các vị cao niên nhắc nhở tìm về và xây mộ cụ tổ tại Đống Tràng, Mường Khụ. Để tỏ lòng biết ơn tiên tổ, con cháu ở bất cứ nơi đâu, khi chết đều phải mo “Nhòm Mường” (nhìn về) Đống Tràng. Nhưng rồi chiến tranh liên miên, hết đánh Pháp lại đánh Mỹ, đánh quân bành trướng Trung Quốc xâm lược … Thế nên đầu thế kỷ 21, họ mới tìm về quê cha, đất tổ Ngọc Lâu – Mường Khụ. Tiếc thay, mộ cụ tổ chỉ còn là một hố sâu, cỏ mọc. Vật quý giá nhất đó là tấm bia đá ghi tên tuổi và công đức của cụ tổ từ thời nhà Lê – Trung – Hưng mà thôi.
Tìm ra một cụ tổ là Quách Phúc Thiêm ở quê gốc Ngọc Lâu (Mường Khụ), con cháu dòng họ Quách ở Thanh Hóa, Hòa Bình và các nơi vô cùng vui mừng. Được sự giúp đỡ của chính quyền sở tại, năm 2009, Nhà bia mộ cụ Quách Phúc Thiêm đã được xây dựng khang trang đúng vị trí cũ tại Đống Tràng xã Ngọc Lâu, ngay bên đường từ Ngọc Lâu đi Tự Do. Ngày khánh thành Nhà bia, ông Quách Đức Vinh làm bài thơ:
NGÀY DỰNG BIA ĐỐNG TRÀNG
Khi trái đất mở mang cõi Việt
Đất Ngọc Lâu nhân kiệt địa linh
Tổ tiên tích đức quang minh
Muôn năm để lại phước lành cháu con
Ngay nay nước thịnh dân yên
Họ hàng ở khắp mọi miền gần xa
Nhớ ơn công đức ông cha
Cùng về họp mặt xây nhà dựng bia
Bia này vốn tự ngày xưa
Ba trăm năm lẻ vẫn chưa phai mờ
Ghi công dựng nghiệp khai cơ
Vua phong phẩm tước ban cho rành rành
Một thời có tiếng có danh
Đất này hun đúc mới thành nghiệp gia
Làng quê trăm họ thuận hòa
Chia nhau kế vị nhà nhà bình an
Hình tràng cốc lý vẫn nguyên
Tài cao bất đệ ở miền Ngọc Lâu
Đông Tây hổ thế bái câu
Hậu đầu bút giá đứng đầu hàng văn
Lưu truyền bách tử thiên tôn
Công hầu tế thế trường tồn mai sau
Dù đi xa ở nơi đâu
Hướng về đất tổ nhớ câu cội nguồn
Thấm nhuần mưa móc càn khôn
Hôm nay họp mặt cháu con một nhà
Thiên nhiên trong tiết thuận hòa
Nhờ ơn Đảng, Bác nhà nhà ấm no
Gấm thêu hoa dệt bốn mùa
Ngọc Lâu đất tổ cơ đồ ngàn năm.

Chúng tôi, những người đang quan tâm tìm hiểu lịch sử trung đại của người Mường, vùng Mường khi chưa thành lập tỉnh Hòa Bình (trước 1886) – phần còn rất khuyết thiếu trong sử sách hiện nay rất vui mừng trước những bằng chứng lịch sử này.
(còn nữa)